Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực ba miền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ẩm thực ba miền. Hiển thị tất cả bài đăng

Món ăn may mắn và triết l‎ý của người Việt

Trong văn hóa ẩm thực Việt Nam cũng xuất hiện những quan niệm và niềm tin về món ăn đem lại may mắn cho người thưởng thức. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở ý nghĩa món ăn hên xui, với triết l‎ý riêng người Việt đã nâng những món ăn đó lên thành giá trị văn hóa, tạo nên nét độc đáo cho ẩm thực dân tộc.
Không riêng gì người Việt ta, nhiều quốc gia khác nhau trong thế giới tâm linh cũng tồn tại quan niệm về thực phẩm may mắn như sủi cảo là món ăn may mắn của Trung Quốc, kim chi đem đến cho người Hàn Quốc điềm lành và niềm vui, cá là thức ăn không thể thiếu trong ẩm thực Nhật bởi họ coi đó là loài động vật thông minh mang đến sự năng động và sáng suốt trong cả năm… Tuy nhiên, với người Việt Nam, quan niệm đó dường như xuất hiện ở mọi vùng miền và mang những nét khác nhau trong mỗi dịp lễ, Tết.

Món ăn khai xuân

Niềm tin về thực phẩm may mắn được thể hiện rõ nhất vào các dịp lễ, Tết khi con người hi vọng ở năm mới thịnh vượng, chính vì thế món ăn khai xuân nhất định phải có ‎ý‎ nghĩa may mắn sâu sắc. Đó là chiếc bánh chưng xanh thể hiện lòng thành kính tổ tiên, cầu mong tổ tiên phù hộ cho năm mới tốt lành, là đĩa xôi gấc mang sắc màu may mắn, là mâm ngũ quả “Cầu, dừa, đủ, xoài, sung” với ‎ nghĩa “Cầu vừa đủ xài, sung túc”, là cặp dưa hấu đỏ au không thể thiếu trên bàn thờ gia tiên mà theo quan niệm của ông cha ta những hạt “cát” trong quả dưa đồng âm với từ “cát” trong tiếng Hán có nghĩa là tốt lành…

Vào những ngày đầu năm mới, đặc biệt là sáng mùng 1 Tết người ta chỉ mời nhau những món ăn mà theo quan niệm là mang lại may mắn. Đó có thể là những món mang sắc màu tươi tắn như màu đỏ tượng trưng cho vận đỏ, màu vàng tượng trưng cho của cải đầy nhà hay những món ăn có ‎ ý nghĩa may mắn như canh khổ qua của miền Nam… Trái lại, để tăng thêm ‎ý nghĩa may mắn cho món ăn và ước nguyện “Cầu được ước thấy”, người ta cũng tránh những món ăn “xui” như những món màu đen hay những món theo quan niệm thường gắn với điềm xui như tuyệt đối không ăn mực, thịt chó, xôi đỗ đen vào đầu năm…

Không thể thiếu trong những dịp quan trọng

Không riêng gì ngày Tết, vào các dịp quan trọng như đám cưới, thi cử… quan niệm về thực phẩm may mắn cũng khá phổ biến.

Trong đám cưới của người Việt dù sang hay giàu, dù ở thành thị hay nông thôn thì cũng không thể thiếu miếng trầu đỏ thắm quyện với vôi nồng tượng trưng cho tình cảm chồng vợ son sắt. Với ‎ ý nghĩa đó người Việt tin rằng miếng trầu sẽ đem đến may mắn, vun đắp cho hạnh phúc trăm năm bền vững. Bên cạnh đó, đĩa xôi gấc cũng là món ăn chưa bao giờ vắng mặt trong cỗ cưới của người Việt Nam.

Thi cử cũng là sự kiện quan trọng của đời người, chính vì thế không có l‎ý gì vào dịp này món ăn may mắn không phổ biến. Quả đúng như thế, theo quan niệm của dân ta truyền tai nhau bao đời nay, đi thi chỉ nên ăn những món ăn may mắn như ăn đậu mà nhất quyết phải là đậu đỏ, ăn xôi gấc; nghiêm cấm ăn thức ăn mang vận đen như mực, thịt chó, trứng vịt lộn, có ăn trứng gà cũng chỉ ăn lòng đỏ… Nghe thì có vẻ nực cười, tuy nhiên với niềm tin và triết l‎ý‎ của mình người Việt tin rằng “Có kiêng, có lành”, những món ăn may mắn đó đã đem đến sự vững tin hơn để họ có thể đối mặt với mọi vấn đề của cuộc sống.

Và cả ngày thường

Khi đã có niềm tin thì niềm tin đó theo người Việt trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc mọi nơi. Bởi lẽ trước hiện thực cuộc sống, con người luôn mơ ước và khát khao thực hiện. Món ăn may mắn cho họ hy vọng và niềm tin hiện thực hóa ước vọng. Chính vì thế, không riêng gì lễ, Tết hay phải chờ đến những dịp quan trọng mà ngay cả trong cuộc sống thường ngày món ăn mang lại những điều tốt đẹp cũng luôn hiện diện.

Trước tiên đó là thói quen “giải đen” cuối tháng bằng thịt chó. Người Việt kiêng không bao giờ ăn thịt chó vào ngày đầu năm, đầu tháng, song họ tin rằng ăn thịt chó vào những ngày cuối năm, cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp nhiều điềm lành.

Thế mới nói, niềm tin về thực phẩm may mắn không chỉ dừng lại ở những món ăn may mắn đó còn là những món ăn giúp xua đi vận hạn, rủi ro. Xét ở khía cạnh nào đó, việc người Việt đi đêm thường mang theo mình nhánh tỏi, cành dâu cũng là từ triết l‎ý đó mà ra. Họ tin rằng nhánh tỏi, cành dâu đó sẽ giúp họ xua đi quỷ dữ, tà ma và mọi điều xấu xa trong đêm tối nhanh chóng đi đến ánh sáng để đón nhận điều tốt đẹp.

Qua món ăn may mắn cùng những triết l‎ý giản đơn đa phần xuất phát từ niềm tin, hi vọng, chúng ta như nhận ra nhiều điều, càng hiểu hơn cuộc sống tinh thần phong phú của người Việt. Niềm tin về thực phẩm may mắn như một giá trị truyền thống vô hình không chỉ phản ánh nét đẹp trong văn hóa ẩm thực nói riêng mà nó còn là điều bí ẩn về văn hóa Việt Nam nói chung.

Bánh giầy trong cỗ tết người Mông

Không có nhân thịt lợn trộn đậu xanh như bánh chưng của người Kinh, chiếc bánh giầy được người Mông làm chỉ có gạo nếp nương được giã nhuyễn mà vẫn thơm phức, ngọt bùi. Đây là một món bánh không thể thiếu trong dịp lễ tết của người Mông.
Những chiếc bánh giầy hoàn chỉnh được bày trên mẹt tre, đặt cạnh ban thờ để thờ tổ tiên và trời đất - Ảnh: Tiến Thành
Cao nguyên Mộc Châu (Sơn La) những ngày này hoa mận, hoa đào đã chớm nở trên khắp các nẻo đường tới bản làng báo hiệu mùa xuân về. Tết của người Mông năm nay đúng ngày 5-1 (mồng 1 tháng 12 âm lịch).

Từ chiều 30 tết, bản Pa Kha (xã Loóng Luông, Mộc Châu) đã nhộn nhịp tiếng chày giã bánh giầy, một món bánh không thể thiếu trong dịp lễ tết của người Mông. Tìm hiểu về món bánh này, chúng tôi đã theo chân chị Sồng Thị Mỹ (32 tuổi) khi nhìn thấy chị đang vác trên người một máng gỗ về nhà.

Người Mông quan niệm hai cái bánh giầy tròn tượng trưng cho Mặt trăng, Mặt trời - là nguồn gốc sinh ra con người và muôn loài trên Trái đất. Vì thế trong những ngày tết của người Mông không thể thiếu món bánh này.

Căn nhà chị mờ khói vì đang đun nồi gạo nếp. Cái máng gỗ được đặt ở giữa nhà. Hai chiếc chày gỗ được xếp gọn trong máng để chực giã.

Tranh thủ đợi nồi cơm nếp chín, chị Mỹ lau từng tàu lá chuối và chiếc mẹt cho sạch. Lũ trẻ con trong bản nháo nhác, đùa vui chờ xem người lớn giã bánh giầy. Còn chúng tôi cũng thấy lạ lẫm và hồi hộp vì lần đầu tiên được chứng kiến cảnh làm bánh giầy của người Mông vào đúng dịp tết.

Sau hai giờ đun, cơm nếp cũng chín. Chị Mỹ nhanh tay dùng thìa xới và đổ vào máng gỗ. Bốn người đàn ông khỏe mạnh cùng phụ giúp chị thay nhau giã. Tiếng chày gỗ vang lên bồm bộp, bình bịch, êm ru và dứt khoát từng hồi. Cứ một hồi giã, mọi người lại thay phiên nhau, lúc thì hai nam hai nữ hoặc cả nữ và nam. Hết giã lại chuyển sang siết bánh cho chặt và nhuyễn.

Mùi bánh tỏa hương thơm phức. Trẻ con đứng bên ngoài tíu tít, chạy quanh cổ vũ. Càng về cuối, mọi người giã càng đều và mạnh tay. Khi cơm nếp đã nhuyễn, láng lòng trắng trứng gà và không dính thì được đổ ra mẹt. Cứ thế chỉ sau gần một giờ với hai lần giã, nồi cơm nếp cũng cạn đáy.
Vừa đổ cơm nếp vào máng vừa giã bánh - Ảnh: Tiến Thành

Khi bánh nhuyễn sẽ được bốc sang mẹt tre - Ảnh: Tiến Thành


Chị Sồng Thị Mỹ cùng con trai Mùa A Lếnh nặn bánh giầy - Ảnh: Tiến Thành
Chị Mỹ cùng con trai Mùa A Lếnh (15 tuổi) nặn và gói bánh. Mẹ nặn, con gói. Từng chiếc bánh ban đầu như quả địa cầu nhỏ xinh, rồi được ép dẹt trên tàu lá chuối. Chốc chốc, hai mẹ con đã làm xong mấy chục chiếc, chất đầy những chiếc bánh xanh trong chiếc mẹt tre.

Nở một nụ cười tươi rói, chị Mỹ mời chúng tôi thử một chiếc bánh. Tò mò và thưởng thức một miếng, thấy vị dẻo và thơm nức trong cuống họng. Thật lạ, chiếc bánh không có gia vị nhưng khi ăn lại không thấy nhạt mà chỉ thấy vị béo, vị bùi.

Và lạ hơn khi trên đường về Hà Nội đầy sương mù và gió lạnh, nhưng cặp bánh mà chị Mỹ biếu vẫn không bị đông cứng, trái lại đượm mùi nếp nương, mùi lá chuối non và đem rán thì bánh nở phồng, thơm ngon, ăn mà không thấy chán.

Bánh chưng

Bạn đã nghe hương vị Tết sắp đến chưa? Riêng tôi khi nghe đến “bánh chưng xanh, dưa đỏ, mai vàng…” lòng tôi lại thấy rộn ràng lên rồi.
Bánh chưng không chỉ dành trong ngày Tết, đám giỗ, lễ hội, mà nó còn đi vào đời sống chúng ta mỗi ngày.
Bánh chưng là một món ăn của người Việt Nam đã trải qua một bề dày lịch sử. Được kết cấu bởi những nguyên liệu đơn giản phổ biến trong dân gian, bánh chưng đã đi vào tâm hồn, tình cảm của người dân Việt Nam.

Cũng chỉ với nếp ngon; đậu xanh thứ tốt (khi nấu chín: xốp, bùi, thơm, vàng ươm); thịt heo đùi hay ba rọi tươi ngon; lá chuối hay lá dong để gói bánh và gia vị nhưng cần khéo léo và kinh nghiệm trong việc gói bánh; để bánh vuông góc, đầy đặn, đẹp. Bánh được cho vào nồi nấu từ 2-20 tiếng đồng hồ tuỳ theo lượng bánh nhiều ít và thể tích to nhỏ của từng cái bánh.

Khi ăn, bánh được bóc vỏ ra để lộ một lớp da xanh mượt mà; khi cắn vào miệng miếng bánh mềm dẻo, quyện lẫn mùi thơm bùi bùi của đậu xanh, cộng với vị béo, thơm ngon của miếng thịt mềm mại từ da cho đến nạc đã được ninh nhừ. Bánh được ăn kèm với dưa hành, củ kiệu…Các vị ngon ngọt, mềm mại của bánh được bổ sung thêm vị chua ngọt của dưa kiệu, dưa hành, tạo nên một hương vị hấp dẫn, kích thích bao tử của bạn.
Có thể dùng bánh chưng với các món khác nhau.
Tuỳ theo khí hậu, phong tục của từng miền, từng vùng; tuỳ theo khẩu vị của từng người; bạn có thể thêm thắt, gia giảm thành phần của bánh. Như có thể thay nhân đậu xanh bằng nhân đậu đen, đỏ, nhân chuối v.v… Nếu bạn không thích ăn mỡ, bạn có thể dùng thịt nạc để gói bánh. Nhưng chính phần mỡ của thịt ở trong bánh sẽ làm bánh mềm mại thơm ngon hơn. Đối với người miền Trung, bạn có thể ăn kèm với dưa món, hoặc với một chén nước mắm với vài lát ớt cay… Bạn cũng có thể dùng bánh với lạp xưởng, hoặc với thịt nạc heo ngâm nước mắm. Cùng “họ” với bánh chưng, chúng ta còn có bánh tét, bánh ú… làm bằng các nguyên liệu chính như nhau, chỉ khác nhau về hình dáng bên ngoài hoặc một vài thay đổi nhỏ bên trong.

Bánh chưng hiện nay không chỉ dành trong ngày Tết, đám giỗ, lễ hội, mà nó còn đi vào đời sống chúng ta mỗi ngày. Buổi sáng nếu bạn đã ngán các món điểm tâm khác, xin mời bạn một cái bánh chưng nóng; bảo đảm ngon miệng và chắc bụng cho đến trưa… Hoặc giả, một buổi tối nào đó, bạn đọc bài hay làm việc khuya…, khi nghe tiếng lao lanh lảnh của người bán bánh giò, bánh chưng ở đầu xóm, hãy ra và đón vài cái bánh thơm ngon và nóng ẩm ấy.

Chè con ong cho Tết thêm ngọt ngào

Với mỗi gia đình, việc nấu chè vào dịp Tết đến Xuân về đã trở thành thói quen, nét đẹp truyền thống của người dân Việt. Trong bữa cơm tất niên hay cúng giao thừa, chè con ong là món chẳng thể thiếu.
Chè con ong muốn ngon phải nấu bằng gạo nếp cái hoa vàng. Đó là giống lúa truyền thống nổi tiếng tại các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ Việt Nam. Hạt gạo tròn, trắng ngần, thơm và được dùng vào việc đồ xôi, thổi cốm cho thật dẻo. Chè con ong thoạt nhìn cũng tưởng như đồ xôi vậy. Nhưng kỳ thực không phải, cách làm chè con ong cầu kỳ hơn nhiều.

Công đoạn chế biến bắt đầu từ việc đãi sạch rồi ngâm gạo từ 4-6 tiếng cho “no” nước, rồi vớt ra vo lại một lần nữa với nước sạch, trộn đều với chút muối và để ráo. Bắc chõ đồ cho xôi chín.

Nếu như với món chè kho, nguyên liệu chính chỉ có đỗ xanh và đường cát trắng, thì chè con ong phải có mật mía, đường, gừng và mật ong - nguyên liệu đã trở thành tên gọi cho món ăn này.

Mật mía loại ngon, màu vàng ươm và không có cặn đen. Nếu không có điều kiện ta có thể thay thế bằng đường đen. Chẳng thế ông chồng trong câu ca dao của xứ Nghệ đã đắm say trước câu nịnh của vợ:

“Chàng ơi ngoảnh mặt ra ngoài/Sớm mai đi chợ thiếp mua mật với khoai mài cho mình ăn”

Thật đúng là “đẹp vàng son, ngon mật mỡ”, chẳng vị ngọt nào sánh được với cái ngọt ngào của mật. Hoà mật mía với nước rồi đun sôi, vớt váng và lọc cho nước mật trong, không gợn cặn. Nước mật mía pha với mật ong vừa đủ ngọt. Giã nhỏ củ gừng già, chắt lấy nước. Trộn đều xôi đã đồ chín với nước mật gừng và khuấy đều tay cho xôi ngấm vị ngọt đến lúc nào sánh thì múc ra đĩa.

Công đoạn khuấy chè cần bàn tay khéo léo của người nấu. Chè ngấm đủ vị ngọt nhưng không được nát, đơm chè lên đẹp như đĩa xôi. Thời tiết lạnh nhưng chè vẫn mềm, dẻo và thơm vị mật ong đặc trưng. Ta có thể rắc vài hạt lạc và phủ một lớp vừng rang sẵn lên bề mặt chè. Đĩa chè nhỏ xinh, lấm tấm những hạt vừng, có vị ngọt của mật mía, thơm tinh khiết của mật ong và cay của gừng già. Vị ngọt ngào đến cháy lòng ấy tan ra nơi đầu lưỡi khi mới cảm nhận.

Bọn trẻ nhỏ thường nghêu ngao bài đồng dao “Dung dăng dung dẻ””:

“Con cóc nhảy ra/ Con gà ú nụ/Bà mụ thổi xôi/Ông tôi nấu chè…”
Ảnh:cadaotucngu.com
Có lẽ người nấu chè ngon nhất trong nhà là những người ông, người bà. Ngày Tết nấu nồi chè con ong hay chè kho ngọt ngào đợi con cái về sum vầy. Dường như ở đó, ẩn chứa mong muốn hoá giải mọi đắng cay, khổ ải trong cuộc sống, để rồi nhận lấy những quả ngọt trái bùi. Chè con ong, món ăn truyền thống ấy đã góp phần làm nên cái Tết thật ngọt ngào!

Món tré ngày tết

Người quê tôi thường làm tré vào dịp tết hay giỗ chạp. Món tré thơm phức được ba mẹ tôi mang biếu ông bà hoặc đãi bạn bè từ lâu đã là món đặc sản trong văn hóa ẩm thực của người dân miền Trung.
Tré bày ra đĩa trông thật ngon mắt
Những ngày này quê tôi đã trẩy lên không khí đón tết. Đâu đâu trong xóm cũng phảng phất mùi mứt dừa, mứt gừng cay nồng. Cả làng trên xóm dưới mới sáng tinh mơ đã í ới gọi nhau đi chia thịt heo. Người bắt heo, kẻ làm thịt, tiếng nói cười râm ran một vùng quê… Các bà, các chị hồ hởi đi tìm lá chuối, lá bưởi… rồi lăng xăng, rục rịch rủ nhau gói tré.

Mẹ bảo tré ngon trước hết ở khâu chọn thịt. Thịt heo mẹ đi chia về, phân từng loại. Thịt đùi dùng để luộc dầm nước mắm, thịt ba chỉ để xíu xì dầu… Riêng phần thịt đầu, tai, da mẹ rửa thật sạch làm tré. Trong khi chờ thịt luộc chín, mẹ lục đục giã tỏi, tiêu, riềng thật nhỏ. Thịt vừa chín tới, vớt ra để nguội rồi xắt lát.

Công đoạn xắt thịt cũng là một “nghệ thuật”, phải xắt sao cho thật mỏng, thật ngon mắt. Thịt xắt xong cho các loại riềng, tiêu, mè, muối… đúng liều lượng, vừa ăn, sau đó mang ướp chừng nửa tiếng.

Khâu chuẩn bị trước khi gói tré cũng thật kỳ công. Ba được giao nhiệm vụ chẻ từng sợi lạt. Lạt làm từ thân cây giang hái ngoài rừng được vuốt thật mỏng để buộc tré. Tôi ngồi lựa những chiếc lá bưởi non, rọc từng tờ lá chuối đem phơi dưới nắng cho dịu.

Tré muốn gói to hay nhỏ tùy ý nhưng thường mẹ tôi hay gói thành đòn. Bao giờ cũng vậy, mẹ phải bọc trước bằng lá bưởi non để tạo mùi thơm. Xé lá chuối thành từng miếng có bản rộng bằng chiều dài miếng thịt, quấn lớp lá chuối nhiều vòng quanh lá bưởi. Kế tiếp dùng một miếng lá chuối lớn bằng bàn tay quấn tròn kín thịt, bẻ gập chéo hai đầu lá xuống là được một đòn, sau đó lấy dây lạt buộc chặt.

Mẹ cẩn thận ủ thêm một ít rơm rạ. Vài ngày sau là có thể sử dụng.

Tuy khác về cách chế biến những cũng như nem, món tré hội tụ đủ ngũ vị: mặn, ngọt, chua cay và vị chan chát thích thú của lá ổi non. Dưới bàn tay khéo léo của mẹ, những chiếc tré sẵn sàng cho ngày tết, trước tiên được đặt lên bàn thờ cúng ông bà, sau đãi khách làm mồi lai rai nhậu mỗi khi đến chúc xuân.

Nem cầu Gỗ Ninh Hòa - Đặc sản Khánh Hòa

Nem là món ăn được chế biến từ thịt heo của người Việt mà ngay cả người Tàu cũng phải "ngả mũ chào". Có nhiều nơi làm nem nổi tiếng, như nem Bắc, nem Huế, nem Thủ Đức, nem Ninh Hòa...


Nói đến nem Ninh Hòa (Khánh Hòa), nơi đây, nem xóm cầu Gỗ được cho là ngon nhất.

Muốn nem ngon trước nhất phải chọn thịt ngon. Thịt không mua ở chợ mà được đưa tới từ các lò heo cũng ở cầu Gỗ. Mà cũng không phải thịt con heo nào cũng làm được nem. Phải là heo nuôi bằng cám, rau, không được cho ăn hèm hay thức ăn tổng hợp. Thịt phải săn, thớ nhỏ và chỉ lấy ở hai đùi sau. Loại thịt này rất mắc. Thịt được lấy ra ngay lúc con heo vừa mới cạo lông còn nóng hôi hổi. Tuyệt đối không được để dính nước.

Lúc đó mới 4 giờ sáng. Những nhà làm nem đã chuẩn bị sẵn dao thớt từ chiều tối hôm trước. Người có tay nghề cao nhất liền ngồi xuống xả thịt ra từng miếng lớn. Con em hay cháu chắt, kẻ lạng bỏ những sợi gân, người thái nhỏ thịt. Từng ký thịt màu hồng được cho vào cối gỗ. Hai thợ giã nem chuyên nghiệp giã liền tay không ngưng nghỉ. Khi đủ một số chày nhất định, người thợ chính bỏ đường, muối vào cối trộn đều, rồi ra hiệu cho họ tiếp tục giã.

Số lượng những chày nện trong cối là cả một bí quyết của từng nhà. Gia giảm còn tùy thịt từng bữa, tùy cối mới mua hay đã cũ, tùy chày nặng hay nhẹ. Người giã nem không như giã gạo. Phải giữ cho được độ nặng của chày rơi xuống thịt và lúc thịt dẻo như đất sét, khó nhất là rút chày lên. Thoát khỏi sức trì kéo của khối thịt không phải cứ mạnh như lực sĩ mà làm được. Phải quen và hiểu đúng ý chủ.

Những nhà làm nem sợ nhất là những lúc thợ giã nem bận việc cưới xin hay ma chay. Họ nghỉ, chủ nem cũng phải nghỉ theo, không ai thay thế được. Dạo những năm gần đây, người ta dùng môtơ để có thể giã nhiều, giã nhanh. Nhưng muốn nem liền lạc, mịn màng, máy chỉ giã lúc đầu chứ khi đã nêm đường muối rồi nhất thiết phải có người giã.

Trong khi đó, một thợ lạng da heo (bì) ngồi lạng từng miếng da đã luộc chín thành những miếng mỏng tang trước khi cuộn lại xắt thành sợi đều như miến. Cũng tùy bí quyết của từng nhà mà số lượng bì thêm vào nhiều hay ít.

Thịt giã vừa xong, bì đã thái nhỏ, hai thứ trộn đều. Người thợ cả ngắt thịt ném vào nia đã trải sẵn lá chùm ruột. Những con cháu liền dùng lá chuối gói lại thành những chiếc nem sao cho hai chiếc bó vào nhau thành một khối tròn. Trước, người ta dùng lạt cói để buộc, giờ dùng sợi thun. Cứ mười cặp, dùng sợi sống lá (buông) xâu lại thành một khoanh. Một khoanh nem tại lò giá 40.000 đồng, ngày tết 50.000 đồng. Chỉ trong ba ngày đêm, vị ngọt của đường, vị mặn của muối hòa với vị thịt khiến nem lên men, trở thành nem chua.

Nem ngon, bóc ra mướt rượt, vẫn giữ được màu hồng tự nhiên, ráo, mịn, cắn nghe dai dai, sựt sựt, giòn giòn. Và miếng nem chua chua, ngòn ngọt, mằn mặn ấy được ăn cùng với một tép tỏi Phan Rang (Lý Sơn càng tốt. chứ không phải tỏi Tàu), chấm thêm một chút mắm đường ớt tỏi keo keo, là sản phẩm công phu và độc đáo của xóm cầu Gỗ Ninh Hòa.

Độc đáo và tài tình ở chỗ thịt không đun nấu mà vẫn chín, vẫn giữ được hương vị thơm ngon, một mùi thơm tự nhiên. Nên gói bằng lá chùm ruột là vậy. Lá không có mùi để làm mất mùi thịt, trơn láng mà không phải dùng nilông.

Tưởng là mộc mạc, dân dã nhưng thật tinh tế, trong đó có cả tinh túy của quê hương và tinh khiết của một thức ăn không sợ bị ngộ độc - trừ khi ăn phải nem quá chua (quá đát) hay nem mới hai ngày chưa đủ chua.

Ngoài nem khoanh còn có nem cây như bánh tét. Mỗi cây nửa ký giá cũng từ 40.000-50.000 đồng. Nem khoanh xắt ra bày trên đĩa trắng trông rất đẹp, nhưng không mịn, không ngon bằng nem chiếc. Được một điều tiện lợi là mang theo gọn và ít xả rác (lá chuối).

Ngày tết, biếu bạn bè một vài khoanh nem, là món quà xuân ý nhị vừa đẹp lòng người nhận, vừa vui lòng người cho.